Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin-Tuc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin-Tuc. Hiển thị tất cả bài đăng
Ngày 18/11/2016, tại TP Hồ Chí Minh, CTCP Chữ Ký số Vi Na - SmartSign đã làm lễ nhận Giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng do Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) cấp. Giấy phép có thời hạn 05 năm, kéo dài từ ngày 04/11/2016 đến hết ngày 04/11/2021.
Công ty cổ phần chữ ký số Vi Na - SmartSign là một trong những đơn vị được Bộ TT&TT cấp giấy phép cung cấp chữ ký số công cộng chính thức, đã họat động trên thị trường được 5 năm, từ năm 2010 đến nay và ngày càng phát triển lớn mạnh, toàn diện, lâu dài và có chiều sâu.

Giấy phép số 496/GP – BTTT cấp ngày 4/11/2016 nêu rõ SmartSign là nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, được cung cấp 3 loại chứng thư số cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng trong các hoạt động công cộng, bao gồm: Chứng thư số cho cơ quan, tổ chức, cá nhân; Chứng thư số SSL/TLS; và Chứng thư số cho phần mềm (Code Signing). Chứng thư số cho cơ quan, tổ chức, cá nhân giúp người dùng chứng thực cơ quan, tổ chức, cá nhân đó trong các giao dịch điện tử như ngân hàng điện tử, chứng khoán trực tuyến, khai báo thuế, hải quan trực tuyến,… Chứng thư số SSL để chứng thực cho website. Chứng thư số Code Signing sử dụng cho các nhà sản xuất phần mềm để chứng thực và đảm bảo tính toàn vẹn của sản phẩm.

Sắp tới SmartSign sẽ lên  kế hoạch cập nhật Chứng thư số cho khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ chữ ký số SmartSign. Thông tin cụ thể sẽ được cập nhật trên website: www.smartsign.com.vn, hoặc khách hàng liên hệ hotline: 19006276 để cập nhật thông tin.

Ngoài ra, Công ty CP chữ ký số Vi Na còn cung cấp giải pháp xác thực và truy nguyên nguồn gốc hàng hoá – SmartStamp: Tem xác thực hàng hóa bằng SMS giúp cho các doanh nghiệp ngăn chặn hàng giả hàng nhái đối với các sản phẩm của mình bằng cách cho phép khách hàng kiểm tra nguồn gốc xuất sứ hàng hóa. Việc này không những bảo đảm được uy tín của doanh nghiệp mà còn giúp cho khách hàng sử dụng hàng hóa chất lượng tốt và có xuất xứ rõ ràng. Hiện nay giải pháp này được sử dụng trong các doanh nghiệp lớn ở nhiều lĩnh vực: thực phẩm chức năng, máy lọc nước, đồng hồ, phân bón... Hệ thống cho phép khách hàng kiểm tra xuất xứ hàng hóa thông qua nhiều hình thức và nhiều kênh khác nhau như: Thông qua tin nhắn SMS gửi đến tổng đài quy định và nhận tin nhắn phản hồi mô tả thông tin về sản phẩm; Thông qua website của doanh nghiệp và nhập mã bí mật trên thẻ cào để kiểm tra hàng hóa; Thông qua tổng đài tự động trả lời.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử - SmartVas. Hóa đơn điện tử được khởi tạo, lập, xử lý và lưu trữ trên hệ thống máy tính theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử; thay thế cho cách xuất hóa đơn, chuyển hóa đơn cho khách hàng và lưu trữ hóa đơn theo phương thức truyền thống. Việc sử dụng hóa đơn điện tử SmartVas mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp như: giảm chi phí in ấn, lưu trữ, vận chuyển hóa đơn, khai thác hóa đơn; thuận tiện cho việc hoạch toán kế toán, đối chiếu dữ liệu, kê khai, nộp thuế; tăng tính năng an toàn, tránh các rủi ro, thất lạc, hư hỏng, nếu mất có thể yêu cầu cấp lại vv… Không  những thế, việc áp dụng hóa đơn điện tử phù hợp với công nghệ tiên tiến đang được áp dụng trên thế giới như Mobile Banking, Internet Banking, SMS Banking,... Đối với khách hàng kê khai thuế, hóa đơn điện tử được cơ quan thuế chấp nhận như hóa đơn giấy.

Trong thời gian sắp tới CTCP Chữ ký số Vi Na sẽ tiếp tục mở rộng và phát triển thị trường, nâng cao chất lượng tất cả các dịch vụ. Chúng tôi định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật nhằm đem lại sự phục vụ tốt nhất, nhanh nhất và thuận tiện nhất cho các khách hàng đã, đang và sẽ sử dụng các dịch vụ của Chữ ký số Vi Na.
                                                                                                                                  Theo ICTNEWS
Chính phủ vừa yêu cầu Bộ KH&ĐT triển khai việc sử dụng chữ ký số của doanh nghiệp trong tất cả các quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước (CQNN) và trong các hoạt động của doanh nghiệp.
Thị trường cung cấp dịch vụ  chứng thực chữ ký số công cộng hiện có 9 đơn vị vị tham gia, với khoảng hơn 700.000 chữ ký số công cộng đanghoạt động (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)
Nghị quyết 19 của Chính  phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020, vừa được Thủ tướng ký ban hành cuối tháng 4/2016.

Mục tiêu và nhiệm vụ chung được Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết này là phấn đấu cải thiện cả về điểm số và vị trí xếp hạng về môi trường kinh doanh. Cụ thể, các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh đạt tối thiểu bằng trung bình của nhóm ASEAN 4; đến năm 2017 đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN 4 trên một số chỉ tiêu về năng lực cạnh tranh thuộc nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả (theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới); và đến năm 2020, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh đạt mức trung bình của các nước ASEAN 3 trên một số chỉ tiêu thông lệ quốc tế.

Đáng chú ý, trong các nhiệm vụ giao cho Bộ KH&ĐT, Chính phủ đã yêu cầu Bộ triển khai thực hiện việc sử dụng mã số doanh nghiệp duy nhất, sử dụng chữ ký số của doanh nghiệp trong tất cả các quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước (KH&ĐT, Thuế, Hải quan, Bảo hiểm xã hội, TN&MT, Xây dựng…) và trong các hoạt động của doanh nghiệp.

Với yêu cầu kể trên của Chính phủ, dự kiến tới đây thị trường cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng sẽ được mở rộng hơn.

Theo thông tin từ Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC), đã có 9 tổ chức cung cấp dịch vụ chữ ký số (CA) công cộng gồm: VNPT-CA, CA2-CA, VIETTEL-CA, BKAV-CA, FPT-CA, SMARTSIGN, SAFE-CA, CK-CA, và NEWTEL-CA. Tuy nhiên thị trường dịch vụ chứng thực chữ ký số, theo phản ánh của các CA đang trong tình trạng bão hòa, với đối tượng sử dụng chủ yếu là các tổ chức, doanh nghiệp. Thống kê NEAC cho hay, tính đến hết 2015, có khoảng hơn 700.000 chữ ký số công cộng đang hoạt động, chủ yếu sử dụng trong lĩnh vực kê khai thuế qua mạng, bảo hiểm xã hội và hải quan điện tử.

Như ICTnews đã đưa tin, tại hội nghị định hướng quản lý nhà nước đối với dịch vụ chứng thực chữ ký số được NEAC tổ chức mới đây, đại diện lãnh đạo 9 tổ chức CA công cộng đều thống nhất nhận định thị trường chữ ký số hiện nay đã trở nên nhỏ hẹp, bão hòa và cần thiết phải được mở rộng.

Ông Ngô Tuấn Anh, Phó Chủ tịch phụ trách An ninh mạng của BKAV, đại diện BKAV-CA cho biết: “Quy mô thị trường chữ ký số vẫn chỉ có đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức. Số tổ chức, doanh nghiệp hiện nay khoảng 600.000 - 700.000 thì hầu hết đều đã sử dụng dịch vụ chữ ký số của các CA. Khách hàng mới để đủ quy mô thị trường cho 9 CA là vô cùng nhỏ”.

Để thị trường chữ ký số phát triển bền vững, đại diện BKAV-CA cũng cho rằng NEAC và các CA cần cùng đồng hành để làm sao mở rộng thêm quy mô thị trường dịch vụ chứng thực chữ ký số, làm sao để bên cạnh việc các CA cạnh tranh cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng thì cũng mở rộng hơn quy mô thị trường, không chỉ giới hạn ở đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức mà có thể mở rộng tới cả đối tượng khách hàng cá nhân. Khi đó thị trường mới rộng mở, các CA mới có cơ hội để cung cấp dịch vụ tốt hơn cho thị trường.

Cũng liên quan đến biện pháp mở rộng thị trường, Giám đốc Trung tâm FPT-CA Lê Việt Cường kiến nghị Bộ TT&TT xúc tiến làm việc với các cơ quan nhà nước khác nhằm có được những chính sách mang tính định hướng mạnh mẽ, có thể yêu cầu một số lĩnh vực “bắt buộc” phải ứng dụng chữ ký số.

Còn theo đề xuất của Phó giám đốc Ban khách hàng tổ chức doanh nghiệp của VNPT-CA Đinh Đức Thụ, với vai trò là cơ quan tham mưu cho Chính phủ về các cơ chế chính sách pháp luật trong lĩnh vực CNTT-TT, Bộ TT&TT có thể tham mưu để đưa quy định những giao dịch, dịch vụ nào phải sử dụng chữ ký số để xác thực vào các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực giao dịch điện tử. “Các CA sẵn sàng tư vấn, góp ý để Bộ tham mưu xây dựng hành lang pháp lý cho thị trường cung cấp dịch vụ chữ ký số”, ông Thụ nói.

Vân Anh( ICTNews)
                       Thông báo V/v gia hạn nộp tờ khai Quyết toán thuế, Báo cáo tài chính 

  THÔNG BÁO
Về việc gia hạn nộp tờ khai Quyết toán thuế, Báo cáo tài chính 
qua mạng kỳ kê khai năm 2015


Tháng 03/2016, Người nộp thuế thực hiện khai Quyết toán thuế Thu nhập doanh nghiệp, Quyết toán thuế Thu nhập cá nhân, Báo cáo tài chính,...với số lượng hồ sơ khai thuế rất lớn. Để phân tải hệ thống, tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ, Tổng cục Thuế thông báo gia hạn thời gian nộp tờ khai thuế qua mạng 03 ngày làm việc (đến hết ngày 04/04/2016) đối với các tờ khai Quyết toán, Báo cáo tài chính kỳ kê khai năm 2015.
        Tổng cục Thuế xin thông báo để Người nộp thuế được biết và thực hiện./.


Theo TCT.
Ngân hàng thương mại sẽ không chấp nhận doanh nghiệp nộp thuế bằng tiền mặt, chỉ chấp nhận nộp thuế bằng hình thức điện tử, bắt đầu từ tháng 12 tới.

Ông Trần Ngọc Tâm, Cục phó Cục Thuế TP HCM cho biết, đã có đến 98% doanh nghiệp tại TP HCM đăng ký nộp thuế điện tử, nhưng số thuế nộp qua điện tử chỉ khoảng 14.000 tỷ đồng, khá nhỏ so với hơn 100.000 tỷ đồng thuế phải thu. Trao đổi với nhiều doanh nghiệp mới hiểu là họ còn băn khoăn về tâm lý, chưa mạnh dạn dùng điện tử, chỉ “rón rén” thử nộp bằng điện tử với các khoản thuế nhỏ, vài triệu đồng do sợ sự cố.

“Nhiều giám đốc chia sẻ họ cũng... sợ kế toán trưởng lợi dụng nên không dám đưa chữ ký số cho kế toán trưởng. Giải pháp mà Cục Thuế khuyến khích là doanh nghiệp đăng ký hai chữ ký số, đăng ký một tài khoản ngân hàng riêng chuyên cho việc nộp thuế điện tử chứ không cho rút tiền mặt, không chuyển khoản đi đâu hết", ông Tâm cho biết.
Nộp thuế điện tử giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí

Nộp thuế điện tử giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí. Ảnh: MH.
Về thời điểm “ép” nộp thuế điện tử từ ngày 1/12, ông Tâm cho rằng doanh nghiệp nên vượt qua rào cản tâm lý, cứ mạnh dạn nộp thuế điện tử. TP HCM có khoảng 170.000 công ty, thông thường có 30% đơn vị có thuế giá trị gia tăng, khoảng 30% có thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

Không xảy ra chuyện cùng một thời điểm mà các doanh nghiệp đồng loạt nhấn nút nộp thuế điện tử. Do đó không lo nghẽn mạng hay sự cố gì cả. Đặc biệt, thông báo nộp thuế cũng rất nhẹ về dữ liệu nên không làm chậm đường truyền.

Song song với đề nghị các UBND tỉnh, thành thì Bộ Tài chính cũng có công văn đề nghị Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) hỗ trợ tuyên truyền, vận động doanh nghiệp đăng ký và thực hiện nộp thuế điện tử đối với tất cả khoản thuế phát sinh.

Ông Lê Văn Khương, Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận 3 (TP HCM), cho biết chỉ còn số ít đơn vị, nhất là doanh nghiệp mới thành lập, chưa hiểu nhiều về nộp thuế điện tử nên chưa đăng ký. Chi cục đã phối hợp với các ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử ngay tại chi cục đến hết tháng 11.

Chẳng hạn như, doanh nghiệp mới thành lập, đến chi cục để làm thủ tục thuế, nộp thuế môn bài thì được hỗ trợ làm hết thủ tục đăng ký, nộp ngay thuế môn bài bằng điện tử. Hết tháng 11, doanh nghiệp phải tự đến ngân hàng để đăng ký, nếu không đăng ký thì doanh nghiệp không thể nộp thuế được vì ngân hàng sẽ không nhận nộp thuế bằng tiền mặt từ đầu tháng 12, ông Khương khẳng định.
Theo VTC news
Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng nhấn mạnh rằng, mục đích của các quy định cấp phép liên quan đến dịch vụ chứng thực chữ ký số phải nhằm thúc đẩy thương mại điện tử, khuyến khích người dân, doanh nghiệp ứng dụng CNTT chứ không phải là gây thêm phiền hà bằng các thủ tục hành chính.

Phát biểu chỉ đạo tại phiên thảo luận về Dự thảo "Thông tư Quy định về hồ sơ và thủ tục cấp phép, đăng ký, chứng nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số và cấp phép sử dụng chứng thư số nước ngoài được chấp nhận tại Việt Nam" chiều nay, 25/9, Thứ trưởng cho rằng, các quy định cần được xây dựng trên tinh thần "thông thoáng", tạo điều kiện cho doanh nghiệp, xã hội triển khai chứ không cần quá tập trung vào các biện pháp phòng vệ nghiêm ngặt.


"Làm sao để chữ ký số trở thành công cụ mà xã hội, doanh nghiệp sử dụng phổ biến, phát triển thương mại điện tử mới là vấn đề cần quan tâm. Trong thực tế triển khai sẽ phát sinh những mặt trái thì ta sẽ tìm cách để hạn chế, khắc phục. Nếu như cơ quan soạn thảo văn bản đặt mệnh đề "hạn chế" lên trước thì lại trở thành cản trở doanh nghiệp, xã hội", Thứ trưởng chỉ ra. Còn trong quá trình hoạt động, nếu doanh nghiệp có sơ suất gì thì cơ quan quản lý cần hỗ trợ, nếu nghiêm trọng có thể xử lý trách nhiệm người đứng đầu chứ không thể ngắt dịch vụ, sẽ ảnh hưởng đến người dùng - nhất là với những doanh nghiệp vẫn đang cung cấp dịch vụ.

"Phải tạo điều kiện phát triển trước rồi mới nghĩ đến việc làm thế nào để tránh bị lợi dụng khe hở của quy định", Thứ trưởng nêu rõ.

Đối với đề xuất liên quan đến việc cấp phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số trực tuyến, Thứ trưởng cho rằng đây là ý tưởng mới, đáng hoan ngênh, tuy nhiên cần được xây dựng rất kỹ, chuẩn chỉ, chín muồi để đạt được hiệu quả như mong muốn. "Rất nhiều dịch vụ công trực tuyến hiện nay chưa được nhiều người dân sử dụng là do mẫu biểu của chúng ta không nhất quán chứ không phải do yếu tố kỹ thuật. Người dân lên mạng, tải về, điền xong hết lại không được chấp nhận, bắt điền lại... nhiều lần như vậy người dân thấy chán, bỏ không dùng vì mất thời gian, mất công tốn sức", Thứ trưởng lý giải.

Thứ trưởng yêu cầu Cục An toàn thông tin - đơn vị chủ trì soạn thảo dự thảo nhanh chóng rà soát, lấy ý kiến góp ý của các bên để trình lên lãnh đạo Bộ trong thời gian sớm nhất.
Theo Vietnamnet
Ngày 10/05/2015, Tổng cục thuế cho phép doanh nghiệp nộp hóa đơn mẫu qua mạng thay vì nộp hóa đơn mẫu trực tiếp tại chi cục như trước đây khi doanh nghiệp làm thủ tục thông báo phát hành hóa đơn mẫu.
Bước 1: Trước khi thực hiện Gửi mẫu hóa đơn qua mạng, doanh nghiệp cần phải gửi Thông báo phát hành hóa đơn qua mạng.

Bước 2: Đăng nhập vào hệ thống trang tổng cục thuế http://nhantokhai.gdt.gov.vn


Bước 3: Vào mục Tra cứu ―> Tra cứu tờ khai để tra cứu Thông báo phát hành hóa đơn đã nộp


Bước 4: Tìm và chọn Thông báo phát hành hóa đơn, sau đó bấm Tra cứu


Bước 5: Chọn Thông báo phát hành hóa đơn vừa nộp và bấm Gửi phụ lục





Bước 6: Chọn tệp phụ lục ―>Chọn mẫu hóa đơn( Lưu ý là bản word- Hướng dẫn chuyển sang file word xem ở dưới ) ―>Open―>Ký điện tử ―>Nộp phụ nộp 

Vậy là bạn đã hoàn thành Gửi mẫu hóa đơn qua mạng . 



Hướng dẫn chuyển hóa đơn tử bản cứng sang bản word

-Scan hóa đơn mẫu và lưu lại dưới dạng hình ảnh có đuôi là .jpg

-Chèn bảng scan vào file word:





Like trang Facebook của chúng tôi để được cập nhật những thông tin mới nhất về lĩnh vực nộp thuế qua mạng  https://www.facebook.com/tongdaichukyso


Trong thời kỳ bùng nổ các giao dịch qua Inernet, để bảo đảm sự nhanh chóng, thuận tiện và an toàn cho các giao dịch này cần phải sử dụng đến giải pháp chữ ký số (CA) trên máy tính, điện thoại. Trên thế giới, trào lưu sử dụng công nghệ chữ ký số trong các giao dịch điện tử đã rất phổ biến. Ở Việt Nam, MobileCA của Viettel đang là một lựa chọn hàng đầu đáp ứng nhu cầu sử dụng CA ngày càng cao của khách hàng.
“QUYỀN NĂNG” CỦA CHỮ KÝ SỐ
Chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử dựa trên công nghệ mã khóa công khai. Mỗi người dùng chữ ký số phải có một cặp khóa (keypair), gồm khóa công khai (public key) và khóa bí mật (private key). Trong đó khóa bí mật dùng để tạo chữ ký số, còn khóa công khai dùng để thẩm định chữ ký số hay xác thực người tạo ra chữ ký số đó.
Hiện nay, chữ kí số có thể bao hàm các cam kết gửi bằng email, nhập các số định dạng cá nhân (PIN) vào các máy ATM, ký bằng bút điện tử với thiết bị màn hình cảm ứng tại các quầy tính tiền, chấp nhận các điều khoản người dùng (EULA) khi cài đặt phần mềm máy tính, ký các hợp đồng điện tử online... Chữ ký số công cộng có thể sử dụng cho các giao dịch điện tử liên quan đến người sử dụng là cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực hoặc sử dụng với các ứng dụng chính phủ điện tử bởi các cơ quan nhà nước trong tương lai sẽ làm việc với nhân dân hoàn toàn trực tuyến và một cửa.
Khi cần làm thủ tục hành chính hay một sự xác nhận của cơ quan nhà nước người dân chỉ cần ngồi ở nhà khai vào mẫu đơn và ký số để gửi là xong. Ngoài ra, chữ ký số cũng có thể dùng để kê khai, nộp thuế trực tuyến, khai báo hải quan và thông quan trực tuyến mà không phải in các tờ khai, đóng dấu đỏ của công ty và chạy đến cơ quan thuế xếp hàng và ngồi đợi vài tiếng đồng hồ, có khi đến cả ngày để nộp tờ khai này.
Chữ ký số cũng giúp cho các đối tác có thể ký hợp đồng làm ăn hoàn toàn trực tuyến không cần ngồi trực tiếp với nhau, chỉ cần ký vào file hợp đồng và gửi qua e-mail. Riêng các giao dịch nội bộ của các cơ quan nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với nhau là các giao dịch đặc thù, không dùng được hệ thống chứng thực công cộng mà phải dùng hệ thống riêng.
Nước ta hiện có 9 nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng, trong khi lượng khách hàng mới chỉ giới hạn ở số lượng khoảng hơn 500.000 doanh nghiệp và phần lớn đều đã sử dụng chữ ký số. Điều này cho thấy, các nhà cung cấp dịch vụ đang đau đầu trước không ít chiêu thức cạnh tranh không lành mạnh. Để nới rộng quy mô thị trường và tạo thêm thuận lợi cho khách hàng, một giải pháp mới được nhắm tới là chữ ký số mobile (MobileCA) dành cho khách hàng cá nhân. Viettel được xem như nắm vị trí tiên phong vì việc nỗ lực cải tiến các giải pháp nhằm tích hợp chữ ký số vào các ứng dụng để có thể sử dụng nhiều hơn cuộc sống.
Với mong muốn chữ ký số phổ dụng, tiện ích, cũng như để có một sản phẩm tốt nhất cho người dùng, Viettel đã nghiên cứu, thử nghiệm thành công và là nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số mobile được tích hợp trên SIM-CA đầu tiên tại Việt Nam. Bên cạnh những chức năng của SIM điện thoại thông thường, SIM-CA do Viettel sản xuất còn chứa chứng thư số và mã xác thực (mã pin) để có thể thực hiện các giao dịch ký điện tử, Trưởng Phòng CA của Viettel, ông Nguyễn Tiến Thành chia sẻ.
TIỆN ÍCH CỦA MOBILECA
Theo Giám đốc Trung tâm giải pháp cộng đồng thông tin và viễn thông Viettel (Viettel ICT) Nguyễn Tiến Dũng, MobileCA có nhiều ưu điểm hơn so với chữ ký số sử dụng qua USB Token truyền thống. Chẳng hạn, với giải pháp dùng USB Token, người dùng bắt buộc phải có kết nối mạng Internet, có laptop hoặc PC, phần mềm cho phép ký điện tử và USB Token chứa chứng thư số. Còn với MobileCA, người sử dụng SIM-CA có thể thực hiện việc ký điện tử thông qua các thiết bị như: máy tính bảng, điện thoại thông minh được tích hợp phần mềm cho phép ký số và ngay cả điện thoại phổ thông (feature phone) gắn SIM-CA ở bất cứ đâu, chỉ cần có sóng của nhà mạng.
Ngoài khả năng di động và tiện dụng, thì giá thành thiết bị của MobileCA cũng rẻ hơn cá sản phẩm CA khác. Hiện tại Viettel bán SIM-CA 120.000 VND so với 500.000 VND của USB Token CA. Ở thời điểm hiện tại giá dịch vụ MobileCA của Viettel là 30.000 đồng/1 thuê bao/tháng là hoàn toàn có thể chấp nhận được bởi nó sẽ tiết kiệm thời gian và mang lại rất nhiều tiện ích cho khách hàng.
Thủ tục đăng ký sử dụng MobileCA tương tự như đăng ký các dịch vụ viễn thông. Khách hàng sau khi đăng ký chứng thực số ở cửa hàng Viettel bất sẽ được cấp một SIM-CA mới và có thể dùng chữ ký điện tử ngay sau đó. Tuy nhiên do đặc thù pháp lý của chữ ký số, tương đương với chữ ký tay, nên có thể phải cần thêm một số giấy tờ xác thực nguồn gốc thông tin của doanh nghiệp hay người sử dụng cá nhân chặt chẽ hơn, chẳng hạn như bản sao giấy tờ có công chứng của doanh nghiệp...). Khách hàng muốn sử dụng dịch vụ CA trên số điện thoại đang có thì khách hành chỉ cần thực hiện thủ tục đổi sim thường sang SIM-CA mà vẫn giữ nguyên được số điện thoại.
“Hiện tại Việt Nam đã có đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hành lang pháp lý để MobileCA bùng nổ. Bởi với dân số 90 triệu người, thì sẽ có ngày càng nhiều người dùng di động tại Việt Nam ứng dụng chữ ký số cá nhân để thực hiện các giao dịch trực tuyến sẽ ngày càng tăng”, ông Dũng khẳng định.
Phân tích về tính bảo mật cao và công nghệ, Trưởng phòng CA Nguyễn Tiến Thành cho hay, chữ ký số dựa trên hạ tầng mã hóa công khai (PKI), trong đó phần quan trọng nhất là thuật toán mã hóa công khai RSA. Công nghệ này bảo đảm rằng chữ ký số khi được một người nào đó tạo ra là duy nhất, không thể giả mạo được và chỉ có người sở hữu khóa bí mật mới có thể tạo ra được chữ ký số đó (đã được chứng minh về mặt toán học).
Hơn nữa, ngoài việc là một phương tiện điện tử được pháp luật thừa nhận về tính pháp lý, chữ ký số còn là một công nghệ mã hóa và xác thực rất mạnh. Để sử dụng chữ ký số cần phải đăng ký chứng thư số và tạo khóa bí mật lưu vào trong PKI Token với các nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số. Điều này thể giúp bảo đảm an toàn, bảo mật cao cho các giao dịch trực tuyến, nhất là các giao dịch chứa các thông tin liên quan đến tài chính.
NHỮNG BƯỚC ĐI CẦN THIẾT
Tại một cuộc hội thảo về chữ ký số do Bộ Thông tin - Truyền thông phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ tổ chức, Phó trưởng ban Cơ yếu Chính phủ Trần Văn Sơn, khẳng định: Chữ ký số là giải pháp tốt nhất trong việc bảo mật, xác thực và bảo toàn dữ liệu trong các giao dịch điện tử.
Mặc dù vậy, trong thời gian qua, việc ứng dụng chữ ký số tại Việt Nam chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộ một tổ chức, doanh nghiệp hoặc thí điểm ở quy mô nhỏ do các chữ ký số này chưa có tính pháp lý đầy đủ. Có một số đơn vị, cơ quan nhà nước đã sử dụng chữ ký số với các hệ thống chứng thực chuyên dùng trong các hoạt động nghiệp vụ nội bộ và trong các cơ quan nhà nước như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thông tin và Truyền thông Tp.HCM…
Mặc dù các đơn vị đã xây dựng khung giá dịch vụ ngay sau khi được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép, nhưng thị trường cho dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng tại Việt Nam chưa hình thành do chưa có nhiều đơn vị dùng chữ ký số. Để những tiện ích như MobileCA trở thành phổ dụng, ngoài các cuộc cải cách hành chính công, điều đầu tiên cần thay đổi là thói quen của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân bằng các biện pháp tuyên truyền, khuyến khích sử dụng chữ ký số.
Công nghệ đang thay đổi mạnh mẽ, có tính chất đột phá, chữ ký số cho cá nhân dùng trên điện thoại di động, máy tính bảng sẽ là xu thế trong thời gian tới. Những tiện ích của CA trong các giao dịch cá nhân và các văn bản hành chính công cũng như những hợp đồng điện tử, hóa đơn điện tử và Internet Banking hay Mobile Banking mới chỉ là bước đầu, còn có rất nhiều việc cần phải làm để thực sự các ứng dụng đó gần gũi phục vụ người dùng tốt nhất. Việc ra đời những tiện ích như MobileCA đang đáp ứng đúng xu thế và chắc chắn sẽ mang lại cho khách hàng nhiều tiện ích phong phú./.
                                                                                                                         Theo Tạp chí Viettel 
Ngày nay, công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) đang làm biến đổi sâu sắc đời sống, kinh tế, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Cùng  điểm lại những dịch vụ tiện ích dành cho doanh nghiệp, người dân trong thời gian qua.
Dịch vụ công qua Internet: Người dân có hưởng lợi?


Tra cứu đóng bảo hiểm xã hội qua mạng

Giải pháp này giúp mọi người có thể tra cứu thông tin cá nhân về quá trình đóng BHXH một cách nhanh chóng, chính xác và mang tính bảo mật cao.

Người lao động không phải mất thời gian, công sức vì chỉ cần lên mạng là biết được thông tin đầy đủ, chính xác.

Việc tra cứu thông báo kết quả đóng trên trang web hoàn toàn được bảo mật bởi phải có đủ thông tin về số sổ BHXH hoặc số thẻ BHYT, số CMND, năm sinh và mã xác nhận.
 Người lao động có thể tra cứu BHXH qua mạng.

Số doanh nghiệp nợ, chậm đóng bảo hiểm cho người lao động đang ngày càng tăng do gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Theo báo cáo của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, tổng số tiền nợ đóng bảo hiểm năm 2014 lên tới 7.279 tỷ đồng, tương đương hơn 4% kế hoạch phải thu trong năm.

Trong số đó, nhiều nhất là nợ bảo hiểm xã hội với 5.578 tỷ đồng, nợ bảo hiểm thất nghiệp là 336 tỷ đồng, nợ chậm đóng bảo hiểm y tế là 1.365 tỷ đồng.

Trong quan hệ lao động, người lao động luôn ở thế yếu hơn so với người sử dụng lao động. Nên muốn tự bảo vệ quyền lợi của mình thì người lao động cần nắm rõ những quy định pháp luật, nắm rõ việc doanh nghiệp có thực hiện đúng quy định với người lao động.

Hóa đơn tiền điện, tiền nước "online"

Sự thay đổi trong cách thu tiền điện: từ "hóa đơn GTGT tiền điện" được thay thế bằng "biên nhận thanh toán tiền điện" khiến nhiều người dân ủng hộ, hài lòng vì "tiện hơn".
Trước đây, người dân thường phải lưu trữ những hóa đơn tiền điện, tiền nước bằng giấy để tra cứu so sánh tháng này sang tháng khác.

Trước đây, người dân khá đau đầu trong việc bảo quản những hóa đơn tiền điện, tiền nước, tiền vệ sinh.

Người dân thường phải lưu trữ những hóa đơn tiền điện, tiền nước bằng giấy để tra cứu so sánh tháng này sang tháng khác. Vì thế,  khi áp dụng rộng rãi hóa đơn điện tử, hình thức này giúp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, giúp cho quá trình thanh toán tiền điện tiền nước diễn ra rất nhanh chóng, thuận tiện.

Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử

Để đăng ký doanh nghiệp trực tuyến (gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh/văn phòng đại diện, thông báo lập địa điểm kinh doanh; đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp/đơn vị trực thuộc), doanh nghiệp chỉ cần thao tác tại trang web http://www.congthongtin.dkkd.gov.vn  bằng hai cách: nộp hồ sơ sử dụng chữ ký số công cộng (chữ ký CA) hoặc nộp hồ sơ sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh.
Trang web đăng ký doanh nghiệp mới. 

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, phần mềm này giúp giảm thiểu tác động chủ quan nhờ hạn chế tối đa tác động của con người vào quy trình xử lý nghiệp vụ, tránh những tiêu cực có thể phát sinh trong quá trình xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Về phía cơ quan đăng ký kinh doanh cũng giảm được áp lực công việc và  tinh gọn bộ máy hành chính.

Người thành lập doanh nghiệp có thể chuẩn bị hồ sơ, nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tới cơ quan đăng ký kinh doanh mà không cần phải trực tiếp đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Đồng thời, thông qua mạng điện tử, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ tiếp nhận, xem xét xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và thông báo kết quả giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

Kê khai thuế qua mạng

Kê khai thuế qua mạng Internet, doanh nghiệp không phải gửi qua đường bưu điện hoặc đến nộp trực tiếp hồ sơ bằng giấy cho cơ quan thuế. Đây là hình thức giao dịch điện tử giữa doanh nghiệp với cơ quan thuế văn minh, hiện đại, được pháp luật về thuế quy định.

Trong đó, chữ ký số có thể hiểu như con dấu điện tử của người phát hành văn bản, tài liệu trong giao dịch điện tử. Ngoài việc sử dụng cho kê khai thuế qua mạng  , chữ ký số có thể được sử dụng trong giao dịch điện tử khác như hải quan điện tử, giao dịch với ngân hàng, chứng khoán…, đảm bảo về tính an ninh và được thừa nhận về pháp lý tương đương với con dấu và chữ ký doanh nghiệp.
So sánh mô hình kê khai thuế cũ và mới.

Những lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện khai thuế qua mạng Internet là: Không giới hạn số lần gửi 1 tờ khai, khi doanh nghiệp kê khai sai và vẫn còn hạn nộp tờ khai, doanh nghiệp có thể gửi tờ khai thay thế với số lần gửi thay thế không hạn chế trước 24h ngày cuối cùng nộp tờ khai vẫn không bị tính nộp chậm.

Xét về không gian và thời gian cũng không giới hạn, doanh nghiệp có thể khai thuế qua mạng khi ở cơ quan, đang đi du lịch, đang về quê cùng gia đình, đang đi công tác đột xuất…; hay gửi tờ khai vào tất cả các ngày kể cả ngày lễ, tết, thứ 7, chủ nhật và có thể gửi vào bất kỳ thời gian nào trong ngày từ 0h00 đến 24h00.

Không chỉ có vậy, dịch vụ này còn tiết kiệm chi phí về thời gian, in tờ khai hay chi phí đi lại cho doanh nghệp. Trường hợp không có mặt ở trụ sở, người đại diện doanh nghiệp vẫn có thể tự ký chữ ký số và khai thuế thông qua mạng internet hoặc có thể uỷ quyền quản lý chữ ký số cho người được tin cậy để ký và nộp tờ khai.

Những thông tin và số liệu khai thuế của doanh nghiệp gửi đến cơ quan thuế một cách nhanh chóng, chính xác và đảm bảo, không sai sót, nhầm lẫn do phần mềm hỗ trợ kê khai thuế đã hỗ trợ tính toán, kiểm tra lỗi không cố ý khi khai thuế.
 Theo Bizlive
Thông báo V/v nâng cấp ứng dụng Khai thuế qua mạng (iHTKK) phiên bản 3.1.3 ,Hướng dẫn cấu hình sử dụng trình duyệt FireFox, Google Chrome, Cách lấy lại lại mật khẩu hệ thống Nộp thuế điện tử
TỔNG CỤC THUẾ THÔNG BÁO

Về việc nâng cấp ứng dụng Khai thuế qua mạng (iHTKK) phiên bản 3.1.3, ứng dụng Nộp thuế điện tử (NTĐT) phiên bản 3.1.3



Tổng cục Thuế đã hoàn thành nâng cấp ứng dụng iHTKK phiên bản 3.1.3, ứng dụng NTĐT phiên bản 3.1.3 đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ và nâng cấp đáp ứng một số yêu cầu khác. Nội dung nâng cấp ứng dụng như sau:

1. Nâng cấp ứng dụng Khai thuế qua mạng(iHTKK):

-       Nâng cấp hệ thống hỗ trợ Người nộp thuế sử dụng dịch vụ Khai thuế qua mạng trên các trình duyệt Web:

+    Trình duyệt Internet Explorer  phiên bản 7,8,9,10,11.

+    Trình duyệt FireFox.

+    Trình duyệt Google Chrome.

Hướng dẫn cấu hình sử dụng trình duyệt  Firefox, Google Chrome

2. Nâng cấp ứng dụng Nộp thuế điện tử (NTĐT):

-       Nâng cấp hệ thống Nộp thuế điện tử hỗ trợ người nộp thuế có thể thực hiện Nộp thuế điện tử bình thường trong trường hợp hệ thống Khai thuế qua mạng tạm dừng hoặc gặp sự cố bằng cách truy cập trực tiếp vào hệ thống theo đường link: http://nopthue.gdt.gov.vn .

-       Bổ sung chức năng lấy lại mật khẩu có xác thực bằng chữ ký điện tử, Người nộp thuế có thể thực hiện lấy lại mật khẩu theo các bước sau:

+    Bước 1: Truy cập vào hệ thống Nộp thuế điện tử: Người nộp thuế truy cập vào hệ thống Nộp thuế điện tử bằng cách chọn Menu “Nộp thuế” trên hệ thống Khai thuế qua mạng hoặc truy cập trực tiếp theo đường link: http://nopthue.gdt.gov.vn .

+    Bước 2: Vào chức năng “Đăng nhập”.

+    Bước 3: Vào chức năng “Lấy lại mật khẩu”.

+    Bước 4: Nhập mật khẩu mới.

+    Bước 5: Đưa chứng thư số đã đăng ký dịch vụ Nộp thuế điện tử, sau đó nhập mã PIN của chứng thư số để xác nhận đổi mật khẩu đăng nhập hệ thống Nộp thuế điện tử.

         Tổng cục Thuế thông báo để Người nộp thuế được biết và thực hiện.
Trân trọng cảm ơn./.

Kết nối với chúng tôi (Like Facebook )để được hỗ trợ tốt hơn https://www.facebook.com/tongdaichukyso
Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) với 85,51% ĐBQH tham gia biểu quyết tán thành. DN có quyền tự chủ quyết định về hình thức, nội dung và việc quản lý, sử dụng con dấu.
Cụ thể, theo quy định tại Điều 44, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Nội dung con dấu phải thể hiện những thông tin tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)
Đồng thời, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của điều lệ công ty. Con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu.

Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) tại Quốc hội sáng 26/11, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu cho biết, về con dấu doanh nghiệp có ý kiến ĐB đề nghị nghiên cứu thêm để phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý và sử dụng con dấu cũng như có biện pháp bảo đảm con dấu có giá trị pháp lý và không bị giả mạo.

Tuy nhiên, sau khi thẩm tra Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng, doanh nghiệp có quyền tự chủ quyết định về hình thức, nội dung và việc quản lý, sử dụng con dấu. Đồng thời, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Khi tham gia các hoạt động kinh doanh, bên đối tác đương nhiên có các biện pháp kiểm tra toàn diện về doanh nghiệp, kể cả tính xác thực của con dấu để hai bên có thể tin tưởng, ký kết, thực hiện giao dịch.

Trước ý kiến ĐBQH đề nghị quy định rõ người có thẩm quyền quản lý con dấu trường hợp doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật. Nhưng theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, việc quản lý, sử dụng con dấu là quyền của doanh nghiệp, được quy định trong điều lệ công ty. Để làm rõ hơn nội dung này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉnh lý khoản 3 Điều 44 của dự án Luật như sau: “Việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty”.

Như vậy, sau nhiều tranh cãi, cuối cùng con dấu doanh nghiệp tới đây sẽ được chính thức dỡ bỏ. Nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng, đây sẽ là sự cởi trói lớn dành cho doanh nghiệp.

Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) gồm 10 chương, 213 điều và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015.
Theo infonet
Từ ngày 01/7/2015, hàng hóa nhập khẩu đang trên đường vận chuyển; đang bày bán; để tại kho, bến, bãi, tại cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu hoặc tại địa điểm khác phải thực hiện những quy định về chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam theo quy định tại Thông tư liên tịch 64/2015/TTLT-BTC-BCT-BCA-BQP ngày 8/5/2015 của liên Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Công an và Bộ Quốc Phòng thay cho Thông tư liên tịch số 60/2011/BTC-BCA ngày 12/05/2011.

Hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá nhập khẩu lưu thông trong thị trường nội địa

Đối với hàng hóa mà cơ sở kinh doanh trực tiếp nhập khẩu về để kinh doanh thì phải có phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (đối với cửa hàng hạch toán phụ thuộc cùng địa bàn tỉnh, thành phố); phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ hoặc hóa đơn và phiếu nhập kho (đối với cửa hàng hạch toán độc lập hoặc không cùng địa bàn với trụ sở chính); phiếu nhập kho (đối với trường hợp hàng hóa lưu kho).

Đối với hàng hóa cơ sở sản xuất, kinh doanh không trực tiếp nhập khẩu vận chuyển, bày bán hoặc lưu kho thì phải có hóa đơn, chứng từ của cơ sở bán hàng theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP về hoá đơn bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ.

Đối với điều chuyển hàng hóa nhập khẩu cho các chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu ở ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; điều chuyển giữa các chi nhánh, đơn vụ phụ thuộc với nhau; xuất trả hàng từ đơn vụ phụ thuộc về cơ sở kinh doanh; xuất hàng đi chào hàng, tham gia hội chợ, triển lãm thì phải có hóa đơn hoặc phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm theo lệnh điều động.

Đối với hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công hàng xuất khẩu vận chuyển, lưu kho, bày bán tại cửa hàng hạch toán phụ thuộc cùng địa bàn tỉnh, thành phố phải có bản sao Tờ khai hải quan hàng nhập khẩu và Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ; Trường hợp cửa hàng trực thuộc khác địa bàn hoặc cửa hàng trực thuộc  cùng địa bàn nhưng hạch toán độc lập thì phải có bản sao tờ khai hải quan hàng nhập khẩu và Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ hoặc hóa đơn theo quy định;

Đối với hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công hàng xuất khẩu vận chuyển bán thành phẩm, nguyên, nhiên, vật liệu để gia công lại tại cơ sở gia công khác thì phải có Hợp đồng gia công lại kèm theo Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ và Lệnh điều động.

Đối với hàng hóa là quà biếu, quà tặng miễn thuế; hàng hóa miễn thuế bán trong các khu kinh tế cửa khẩu, phải có chứng từ chứng minh hàng hóa đã được kê khai hoặc bản chính biên lai đã thu thuế nếu thay đổi mục đích sử dụng hoặc chuyển tiêu thụ nội địa.

Thời gian xuất trình hoá đơn, chứng từ

Theo quy định tại Thông tư 64, từ ngày 1/7/2015 hàng hóa nhập khẩu của cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu đang bày bán, để tại kho, bến, bãi thuộc quyền sử dụng hoặc sở hữu của cơ sở đó thì tại thời điểm kiểm tra, cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải xuất trình bản sao hóa đơn, chứng từ có đóng dấu của cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu để có căn cứ xác định hàng hóa nhập khẩu là hợp pháp và trong thời hạn 24 giờ liên tục (thay vì trước đây là 72 giờ liên tục), kể từ thời điểm kiểm tra, cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu phải xuất trình đầy đủ hoá đơn, chứng từ bản chính chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa theo quy định. Trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu xuất trình đầy đủ hồ sơ chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa nhưng cơ quan kiểm tra có căn cứ xác định nguồn gốc của hàng hóa nhập khẩu không hợp pháp thì cơ quan kiểm tra thực hiện việc tạm giữ hàng hóa, đối chiếu hồ sơ, xác minh làm rõ nguồn gốc hàng hóa đó để xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu gây thiệt hại cho cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhập khẩu.

Hàng hoá nhập lậu

Thông tư này cũng nêu rõ, hàng hoá nhập khẩu bị xem là hàng hoá nhập lậu khi: cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng nhập khẩu không xuất trình được các hóa đơn, chứng từ hợp pháp trong thời hạn quy định; hàng hoá nhập khẩu lưu thông thị trường có hóa đơn, chứng từ nhưng qua điều tra, xác minh của cơ quan chức năng xác định là hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp; hàng hoá nhập khẩu do cơ sở sản xuất, kinh doanh thu mua gom hàng hoá trao đổi của cư dân biên giới xuất hoá đơn bán hàng nhưng khi cơ quan chức năng xác minh nguồn gốc mà không có đủ chứng từ theo quy định./.
                                                                          Theo TCT
Nhằm triển khai Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong 2 năm 2015-2016, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đang đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý thuế, trong đó xác 2 nhiệm vụ trọng tâm là: hoàn chỉnh hệ thống CNTT phục vụ công tác quản lý thuế; triển khai mở rộng các dịch vụ thuế điện tử cho người nộp thuế.


Mới đây, UBND thành phố Hà Nội đã có văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện, thị xã phối hợp với Cục Thuế Hà Nội và các chi cục thuế triển khai một số nội dung như: Triển khai hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS – Tax Management System) và triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử.

Đặc biệt nộp thuế điện tử là dịch vụ công trực tuyến được triển khai thông qua cổng thông tin Tổng cục Thuế tại địa chỉ: http://kekhaithue.gdt.gov.vn đối với các tổ chức, doanh nghiệp thay cho hình thức nộp thuế trực tiếp tại quầy giao dịch. Với những tiện ích vượt trội của loại hình dịch vụ này, từ quý IV/2014, Cục Thuế thành phố Hà Nội đã triển khai hình thức nộp thuế điện tử trên địa bàn. Sau khi Tổng cục Thuế ký thỏa thuận hợp tác đợt 2 ngày 10/3/2015 và ban hành quy chế phối hợp với 15 ngân hàng, Cục Thuế TP. Hà Nội tiếp tục mở rộng kết nối, triển khai nộp thuế điện tử qua các ngân hàng này nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người nộp thuế trong thực hiện nộp thuế điện tử. Đến hết tháng 5/2015, trên địa bàn TP. Hà Nội có trên 48.000 doanh nghiệp đã thực hiện đăng ký nộp thuế điện tử khi có phát sinh nghĩa vụ thuế.

Cục Thuế TP. Hà Nội cho biết, dự án kê khai, nộp thuế điện tử trên địa bàn thành phố Hà Nội sẽ đảm bảo mục tiêu giảm 10%, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính thuế và hết tháng 9/2015, TP. Hà Nội sẽ có 90% doanh nghiệp nộp thuế điện tử.                                                                    

Theo nhận định của UBND thành phố Hà Nội, triển khai ứng dụng CNTT sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, tuy nhiên trong giai đoạn đầu sẽ phát sinh vướng mắc; do đó, UBND thành phố Hà Nội đã yêu cầu Cục Thuế TP. Hà Nội và các chi cục thuế chủ động thực hiện, nếu có khó khăn báo cáo UBND thành phố và các quận, huyện, thị xã hỗ trợ giải quyết.

Bên cạnh đó, UBND thành phố Hà Nội cũng chỉ đạo các sở, ban, ngành và UBND quận, huyện, thị xã tập trung đôn đốc các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn phối hợp tổ chức triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi đăng ký và sử dụng dịch vụ. Chỉ đạo giám sát, động viên, đôn đốc tiến độ và hỗ trợ các cơ quan thuế triển khai các nhiệm vụ trọng tâm về CNTT đúng kế hoạch, đạt hiệu quả đặc biệt là chương trình nộp thuế điện tử. Thực hiện đồng bộ công tác cải cách thủ tục hành chính và phối hợp có hiệu quả với cơ quan thuế trong việc trao đổi, tích hợp thông tin phục vụ công tác quản lý thuế trên địa bàn đạt hiệu quả cao.

Theo Website BTC

Ngày 18/5/2015 Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 912/QĐ-BTC (QĐ 912) kèm theo các quy định về việc nộp thuế điện tử qua tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN và xử lý sự cố trong quá trình nộp thuế điện tử. ”Đây  là  một trong những giải pháp tạo thêm điều kiện thuận lợi để DN thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, đồng thời thể hiện quyết tâm đẩy nhanh tiến độ nhằm đạt mục tiêu đến hết năm 2015 sẽ có 90% DN nộp thuế qua mạng” - bà Nguyễn Thu Trà, Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin Tổng cục Thuế nhận định.        

Bà Trà cho biết, các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền nhận dữ liệu điện tử dữ liệu trung gian (T-VAN) là ”cánh tay nối dài của cơ quan Thuế”, giúp cơ quan Thuế mở rộng triển khai các dịch vụ thuế điện tử. Khi T-VAN được tham gia triển khai dịch vụ thuế điện tử, nó không chỉ tạo thêm kênh hỗ trợ người nộp thuế (NNT) thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế nhanh chóng, chính xác; mà còn hỗ trợ cơ quan thuế tiết kiệm chi phí, nhân lực, tăng cường hiệu quả trong quản lý, xử lý thông tin về thuế, góp phần tích cực thực hiện cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý. Nhận thấy những ưu điểm của loại hình dịch vụ này, từ cuối năm 2010, Bộ Tài chính đã tạo dựng cơ sỏ pháp lý (Thông tư 180/2010/TT-BTC) để các DN đủ điều kiện sẽ được Tổng cục Thuế cấp phép là nhà cung cấp dịch vụ truyền nhận dữ liệu điện tử trung gian (T-VAN), với mục tiêu phối hợp với ngành Thuế triển khai mở rộng kê khai thuế qua mạng. Đến giai đoạn này, khi việc đẩy nhanh triển khai nộp thuế điện tử đang là nhiệm vụ hối thúc thì nỗ lực huy động các đơn vị, tổ chức, công ty cung cấp các dịch vụ giải pháp công nghệ thông tin phục vụ người nộp thuế, được xem là giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ DN, hộ kinh doanh nộp thuế qua mạng. Đưa các đơn vị T-VAN tham gia vào cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho DN đang thực hiện kê khai thuế qua hệ thống của T-VAN có thể sử dụng luôn dịch vụ nộp thuế điện tử mà không cần chuyển qua hệ thống của cơ quan Thuế.
Hình ảnh minh họa
Theo đó, để đáp ứng yêu cầu nộp thuế điện tử qua T-VAN, QĐ 912 đã thiết kế kèm theo 3 mẫu đăng ký, cụ thể là: Mẫu 01/NTĐT-T-VAN sử dụng khi NNT đăng ký sử dụng T-VAN; Mẫu 02/ĐK-T-VAN sử dụng trong trường hợp thay đổi, bổ sung thông tin trên tờ khai đăng ký sử dụng dịch vụ T-VAN; Mẫu 03/ĐK-T-VAN sử dụng khi NNT dừng sử dụng T-VAN. Việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ T-VAN cũng được thiết kế rất đơn giản. Ngay khi nhận được tờ khai đăng ký sử dụng dịch vụ T-VAN theo mẫu số 01/NTĐT-T-VAN của DN gửi đến cổng thông tin điện tử, cơ quan thuế sẽ gửi thông báo đến tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN. Sau khi thực hiện đăng ký sử dụng dịch vụ T-VAN, NNT thực hiện đăng ký với ngân hàng thương mại nơi mở tài khoản để thực hiện thủ tục nộp thuế điện tử theo quy định. Tại đây, ngay khi chấp nhận đăng ký của NNT, ngân hàng thương mại gửi thông báo đến Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế để gửi cho tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN. Kể từ khi được cơ quan thuế chấp thuận sử dụng dịch vụ T-VAN để nộp thuế điện tử đến khi chấm dứt sử dụng dịch vụ, NNT thực hiện gửi, nhận các chứng từ điện tử thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN. ”Lưu ý là chứng từ điện tử của NNT gửi qua tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN đến cơ quan thuế phải có chữ ký số của người nộp thuế và tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN” - bà Trà nhấn mạnh.

Nhằm đảm bảo quyền lợi của NNT được đảm bảo tối ưu, QĐ 912 cũng quy định rõ: Trường hợp muốn thay đổi, bổ sung thông tin trên tờ khai đăng ký sử dụng dịch vụ T-VAN, NNT sẽ thực hiện khai các thông tin thay đổi, bổ sung theo mẫu số 02/ĐK-T-VAN; trường hợp muốn ngừng sử dụng dịch vụ T-VAN, DN thực hiện đăng ký theo mẫu số 03/ĐK-T-VAN và gửi đến cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế qua tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN để được xác nhận. Tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN phải chịu trách nhiệm (theo quy định tại hợp đồng về cung cấp dịch vụ giữa tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN và NNT) về giao dịch nộp thuế điện tử của DN đến cơ quan thuế đúng thời hạn (trong trường hợp NNT nộp thuế đúng hạn). Trường hợp có lỗi hệ thống hạ tầng kỹ thuật của tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN thì tổ chức có trách nhiệm thông báo cho DN biết và phối hợp với Tổng cục Thuế để được hỗ trợ. Trường hợp do lỗi của Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế trong ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế thì Tổng cục Thuế chịu trách nhiệm thông báo trên Cổng thông tin điện tử về thời gian hệ thống tiếp tục vận hành. Trong quá trình nộp thuế điện tử nếu gặp sự cố lỗi kỹ thuật thì NNT liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn, hỗ trợ và giải quyết kịp thời. Trường hợp đến hạn nộp thuế mà hệ thống hạ tầng kỹ thuật của DN chưa khắc phục được sự cố thì DN sẽ thực hiện nộp thuế bằng hình thức thông thường, sau đó sẽ tiếp tục thực hiện giao dịch điện tử trong các kỳ tiếp theo.

Điều quan trọng nhất là, trong thời gian Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế gặp sự cố theo thông báo của Tổng cục Thuế, DN sẽ không bị tính tiền chậm nộp cho khoản nộp có hạn nộp nằm trong khoảng thời gian hệ thống có sự cố. Các sai sót khác được phát hiện sau khi ngân hàng thương mại đã hạch toán vào tài khoản của kho bạc nhà nước thì các cơ quan, đơn vị liên quan phải phối hợp giải quyết, đảm bảo NNT không bị tính tiền chậm nộp nếu do lỗi của cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế./.                                                                                                                 Theo Tổng Cục Thuế .
Với kế hoạch triển khai nộp thuế điện tử như hiện nay, mỗi doanh nghiệp có thể cần nhiều hơn một chữ ký số, nên theo Bộ Tài chính, việc giảm giá là cần thiết để khuyến khích hoạt động này.
Hình ảnh minh họa 

Bộ Tài chính vừa đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số có chính sách giảm giá để khuyến khích doanh nghiệp, người dân.

Chữ ký số là một trong những yêu cầu bắt buộc khi doanh nghiệp kê khai thuế điện tử. Sau khi triển khai từ năm 2009, đến nay 95% doanh nghiệp thực hiện. Vì vậy, số lượng lớn các đơn vị sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số cũng gia tăng. Bộ Tài chính nhìn nhận, các đơn vị cung cấp dịch vụ chữ ký số đã tăng cường khuyến mại trong 2-3 năm ở mức 800.000 đến trên một triệu đồng một năm. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ hỗ trợ chưa được đánh giá cao, phần lớn chỉ tập trung vào việc cung cấp chữ ký số ban đầu.

Với kế hoạch của ngành Thuế trong năm 2015, triển khai nộp thuế điện tử cho 90% doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp có thể cần nhiều hơn một chữ ký số. Do vậy, Bộ Tài chính đề nghị các đơn vị này có chính sách giảm giá dịch vụ cũng như có chính sách hỗ trợ, hậu mãi sau bán hàng tốt hơn.
                                                                                                                         Theo Vnexpress
ICTnews - Việc áp dụng các tiêu chuẩn mới về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số theo quy định tại Thông tư 06 của Bộ TT&TT có hiệu lực từ 15/9/2015 nhằm tăng cường tính an toàn, bảo mật của chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng cho biết, Danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số mới ban hành đã được cập nhật, bổ sung để phù hợp với xu hướng phát triển công nghệ và đáp ứng nhu cầu thực tiễn. 


Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng cho biết, Danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số mới ban hành đã được cập nhật, bổ sung để phù hợp với xu hướng phát triển công nghệ và đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Hôm nay, 15/5/2015, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng đã chủ trì hội thảo phổ biến Thông tư 06/2015/TT-BTTTT quy định Danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (Thông tư 06) nhằm giúp cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số (CA) cùng các cơ quan, đơn vị có liên quan hiểu rõ và thực hiện có hiệu quả Thông tư này.
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng cho biết, từ năm 2008, thực hiện Nghị định 26 ngày 15/2/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, Bộ TT&TT đã ban hành Quyết định 59/2008/QĐ-BTTTT của Chính phủ quy định Danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (Quyết định 59).
Trong 7 năm thực hiện Quyết định 59, các CA đã triển khai hạ tầng chữ ký số và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số tới khách hàng. Đến nay, đã có một hạ tầng tương đối hoàn chỉnh đảm bảo đáp ứng các nhu cầu sử dụng chữ ký số của người dân và nhu cầu cung cấp dịch vụ của các CA đã được cấp phép. Đặc biệt, đã có hơn 100.000 thuê bao ứng dụng chữ ký số trong các giao dịch điện tử với cơ quan nhà nước hoặc giữa các cá nhân với nhau.
Tuy nhiên, thời gian qua, hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, bảo mật thông tin luôn được cập nhật, bổ sung và nâng cấp để đảm bảo mức độ, yêu cầu an toàn thông tin ngày càng cao. Sau 7 năm thực hiện, Bộ TT&TT nhận thấy quy định tại Quyết định 59 cần phải được rà soát, sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với xu hướng phát triển công nghệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Thông tư 06 đã được Bộ trưởng TT&TT Nguyễn Bắc Son ký ban hành ngày 23/3/2015, áp dụng với các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia, cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng được Bộ TT&TT cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số cũng như các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài được Bộ TT&TT cấp giấy công nhận.
Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng cũng nhấn mạnh, Thông tư mới ban hành đã bổ sung, cập nhật những tiêu chuẩn mới nhằm tăng cường tính an toàn, bảo mật của chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
Đại diện Vụ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) thuộc Bộ TT&TT cho biết, Danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số ban hành kèm theo Thông tư 06 cập nhật, bổ sung một số tiêu chuẩn như: tiêu chuẩn yêu cầu an toàn đối với thẻ Token và Smart card; thay thế tiêu chuẩn mật mã đối xứng FIPS PUB 46-3 (DES) bằng tiêu chuẩn NIST 800-67 (3DES); bổ sung tiêu chuẩn giao diện giao tiếp với các thẻ mật mã PKCS#11 phiên bản 2.20; thêm tiêu chuẩn giao thực cho kiểm tra trạng thái chứng thư số trực tuyến RFC 2560…
Chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2015, Thông tư 06 sẽ thay thế cho Quyết định 59. Thông tư 06 nêu rõ, Quyết định 59 sẽ hết hiệu lực từ ngày15/9/2015, trừ quy định về “Hàm băm bảo mật” tại mục 2.3 của Danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số ban hành kèm theo Quyết định 59 tiếp tục có hiệu lực đến hết ngày 31/3/2016. Cụ thể, theo Vụ KH&CN, từ 15/9/2015, đến hết ngày 31/3/2016, hàm băm SHA-1 vẫn có thể được sử dụng hoặc CA chọn sử dụng SHA-2 theo quy định tại Thông tư 06. Sau ngày 31/3/2016, sẽ chuyển sang sử dụng hàm băm SHA-2.

Theo  lưu ý của đại diện Vụ KH&CN, thiết bị khách hàng đang sử dụng không bắt buộc phải nâng cấp hoặc thay thế để đáp ứng tiêu chuẩn thuộc Danh mục mới ban hành. (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)
Theo  lưu ý của đại diện Vụ KH&CN, thiết bị khách hàng đang sử dụng không bắt buộc phải nâng cấp hoặc thay thế để đáp ứng tiêu chuẩn thuộc Danh mục mới ban hành. (Ảnh minh họa. Nguồn: Internet)

Vụ KH&CN lưu ý, thời gian tới các CA cần rà soát cơ sở hạ tầng của mình theo tiêu chuẩn quy định tại Thông tư 06, từ đó xây dựng kế hoạch rà soát, chuyển đổi, nâng cấp hệ thống (cả hệ thống thiết bị của CA và thiết bị khách hàng); đồng thời xây dựng kế hoạch thông tin tuyên truyền cho khách hàng về ý nghĩa của việc áp dụng tiêu chuẩn mới, quyền lợi của khách hàng…
Theo kế hoạch, trước ngày 15/9/2015, các CA phải chuẩn bị cơ sở hạ tầng để đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại Thông tư 06; và cho thiết lập, vận hành chạy thử. Từ ngày 15/9/2015, các CA phải đảm bảo duy trì hệ thống hỗ trợ các tiêu chuẩn mới và các tiêu chuẩn cũ để đảm bảo duy trì dịch vụ bình thường của khách hàng; chỉ phát triển thuê bao và cung cấp thiết bị thuê bao mới theo tiêu chuẩn quy định tại Thông tư 06.
Đáng chú ý, theo đại diện Vụ KH&CN, thiết bị khách hàng đang sử dụng không bắt buộc phải nâng cấp hoặc thay thế để đáp ứng tiêu chuẩn thuộc Danh mục mới ban hành. Hệ thống thiết bị của các CA và ứng dụng bên thứ ba phải hỗ trợ khách hàng cả tiêu chuẩn cũ và tiêu chuẩn mới quy định tại Thông tư 06 để đảm bảo duy trì dịch vụ bình thường của khách hàng. Đồng thời, các CA phải tuyên truyền về việc áp dụng tiêu chuẩn mới và hỗ trợ khách hàng tự nguyện chuyển đổi, nâng cấp theo nhu cầu.
                                                                                          Theo ICTnews
ICTnews- Khoảng 1 năm trở lại đây, hàng loạt khóa tập huấn sử dụng chữ ký số trong các cơ quan Nhà nước đã được tổ chức tại nhiều địa phương nhằm tăng cường sử dụng chữ ký số để đảm bảo an toàn an ninh cho giao dịch điện tử. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần đưa Việt Nam thực sự trở thành nước mạnh về CNTT-TT.

Cần đảm bảo an toàn, an ninh cho ứng dụng CNTT
Hoạt động ứng dụng CNTT-TT trong các cơ quan Nhà nước vẫn đang trên đà tăng trưởng mạnh.
Đơn cử, tại Lào Cai, các cơ quan Nhà nước đã xây dựng và vận hành được nhiều hệ thống thông tin thiết yếu theo mô hình khung Chính phủ điện tử tỉnh như: Cổng thông tin điện tử, cổng thông tin nội bộ, hệ thống thư điện tử, phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc, hệ thống giao ban trực tuyến, hệ thống dịch vụ công trực tuyến,...
Hoặc tại Quảng Trị, toàn tỉnh có 100% cán bộ, công chức cấp tỉnh được cung cấp hộp thư điện tử công vụ với tên miền @quangtri.gov.vn; hệ thống gửi nhận văn bản chỉ đạo điều hành từ UBND tỉnh đến các đơn vị trực thuộc và giữa các cơ quan, đơn vị với nhau được triển khai và duy trì sử dụng thường xuyên; 100% văn bản quy phạm pháp luật và hơn 80% văn bản chỉ đạo, điều hành của tỉnh được cập nhật trên Trang thông tin điện tử Quảng Trị.
Tại Thanh Hóa, việc ứng dụng và phát triển đã trở thành công cụ đắc lực giúp chính quyền các cấp nâng cao năng lực quản lý, điều hành. Các Sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố đều đã triển khai hệ thống phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc, thư điện tử công vụ và  trang thông tin điện tử. Hơn 80% văn bản đã được các cơ quan Nhà nước trao đổi qua hệ thống thư điện tử công vụ và hệ thống phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc.
Với sự “nở rộ” các hệ thống ứng dụng CNTT như vậy, để các giao dịch trên môi trường mạng bảo đảm an toàn, bảo mật, được xác thực và có giá trị pháp lý, thì việc sử dụng chữ ký số là rất cần thiết và quan trọng.
Tuy nhiên, việc ứng dụng chữ ký số trong các cơ quan Nhà nước thời gian qua vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức. Một trong những nguyên nhân là do các cơ quan Nhà nước, các địa phương có nhu cầu sử dụng chữ ký số vẫn chưa được tập huấn, hướng dẫn kịp thời về và các giải pháp chữ ký số.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, giao dịch điện tử trong các cơ quan Nhà nước phải sử dụng chữ ký số chuyên dùng do Ban Cơ yếu Chính phủ cấp. Số lượng nhân lực còn mỏng của Ban Cơ yếu không thể một sớm một chiều hoàn tất việc tập huấn triển khai chữ ký số cho các địa phương.
Biến nhận thức thành hành động
Một tín hiệu vui là khoảng 1 năm trở lại đây, hàng loạt khóa tập huấn triển khai sử dụng chữ ký số đã lần lượt được tổ chức tại nhiều địa phương trong cả nước như Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Tiền Giang, Thanh Hóa…
Qua các buổi tập huấn, các địa phương có được cái nhìn toàn cảnh hơn về hiện trạng ứng dụng chữ ký số hiện nay cũng như yêu cầu thực tế phát triển ứng dụng chữ ký số, nhìn thấy rõ hơn thuận lợi và khó khăn để từng bước ứng dụng chữ ký số vào hoạt động quản lý nhà nước, trong giải quyết, điều hành công việc,  hướng tới xây dựng chính quyền điện tử, chính phủ điện tử.
Sau khi được nâng cao nhận thức về chữ ký số, không ít địa phương đã có hành động cụ thể và quyết liệt để tăng cường sử dụng chữ ký số trong các cơ quan Nhà nước.
Điển hình như tại Thanh Hóa, ngày 7/4/2014, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND về việc triển khai ứng dụng chữ ký số chuyên dùng trong các cơ quan nhà nước tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015. Ngày 17/10/2014, Chủ tịch UBND tỉnh ký tiếp Quyết định số 3457/QĐ-UBND ủy quyền cho Giám đốc Sở TT&TTtrách nhiệm quản lý thuê bao chứng thư số chuyên dùng trong các cơ quan nhà nước của tỉnh.
Dự kiến trong năm nay, các sở, ban, ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh sẽ được cấp chứng thư số cơ quan. Mặt khác, sẽ có 9 cơ quan thực hiện thí điểm việc cấp chứng thư số cá nhân cho các đối tượng là lãnh đạo và chánh, phó văn phòng của cơ quan.
Năm 2015 sẽ tiến hành cấp chứng thư số cá nhân cho 39 cơ quan còn lại trong khối cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, huyện. Sau năm 2015, trên cơ sở tổng kết đánh giá hiệu quả triển khai ứng dụng chữ ký số, sẽ  tiếp tục triển khai chữ ký số chuyên dùng giai đoạn tiếp theo trên quy mô lớn (triển khai đến các xã, phường, thị trấn), đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số vào dịch vụ công trực tuyến.
Tại một địa phương khác là Lào Cai, đến nay cũng đã có 30 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh được Ban Cơ yếu Chính phủ cấp chứng thư số cơ quan, đồng thời hướng dẫn cài đặt, sử dụng phần mềm chứng thư số.
Hoặc tại Tiền Giang, Sở TT&TT đã đăng ký với Ban Cơ yếu Chính phủ để được cấp 283 chứng thư số dành cho các tổ chức, cá nhân trong tỉnh với Ban Cơ yếu Chính phủ. Đến nay, Ban Cơ yếu Chính phủ đã cấp 175 chứng thư số cho các cơ quan Nhà nước.
Các địa phương đều thống nhất quan điểm cho rằng ứng dụng chữ ký số trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin cho các giao dịch điện tử trong các cơ quan Nhà nước. Đây là một điều kiện thiết yếu cần phải làm để đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT-TT.
                                                                                                              Theo ICTnews
CÔNG TY LUẬT PLF

(Tài chính) Doanh nghiệp, tổ chức có thể sử dụng chữ ký số để thực hiện các thủ tục về thuế, hải quan,… điện tử nhằm tiết kiệm thời gian, công sức nhưng vẫn đảm bảo về giá trị pháp lý.

Giá trị pháp lý của chữ ký số

Chữ ký số không đòi hỏi phải sử dụng giấy mực, nó gắn đặc điểm nhận dạng của người ký vào một bản cam kết nào đó. Nguồn: plf.vn

Chữ ký số là gì?

Về căn bản, khái niệm chữ ký số cũng giống như chữ viết tay được dùng để xác nhận lời hứa hay cam kết và sau đó không thể rút lại được.

Chữ ký số không đòi hỏi phải sử dụng giấy mực, nó gắn đặc điểm nhận dạng của người ký vào một bản cam kết nào đó.

Chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử.

Chữ ký số dựa trên công nghệ mã hóa công khai (RSA): mỗi người dùng phải có 1 cặp khóa (keypair) gồm khóa công khai (public key) và khóa bí mật (private key). “Private key” là một khóa trong cặp khóa thuộc hệ thống mã không đối xứng được dùng để tạo chữ ký số.

“Public key” là một khóa trong cặp khóa thuộc hệ thống mã không đối xứng, được sử dụng để kiểm tra chữ ký số được tạo bởi khóa bí mật tương ứng trong cặp khóa.

Bằng cách này, người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khoá công khai của người ký có thể xác định được chính xác:

- Việc biến đổi nêu trên được tạo ra bằng đúng khoá bí mật tương ứng với khoá công khai trong cùng một cặp khóa;

- Sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu kể từ khi thực hiện việc biến đổi nêu trên.

Sử dụng chữ ký số trong trường hợp nào?

Đối với những văn bản bằng giấy thông thường, nếu pháp luật quy định văn bản đó cần chữ ký mới có hiệu lực thì cần phải ký trực tiếp lên văn bản.

Tuy nhiên, đối với một thông điệp dữ liệu nếu pháp luật có quy định cần phải có chữ ký thì phải được ký bằng chữ ký số.

Trong trường hợp đối với tổ chức, pháp luật có yêu cầu văn bản phải được đóng dấu thì văn bản này phải được ký bởi chữ ký số của người có thẩm quyền về quản lý và sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn.

Chữ ký số thường được sử dụng trong các giao dịch thương mại điện tử như: hải quan, kê khai thuế, mua hàng trực tuyến,…

Giá trị pháp lý

Các văn bản điện tử được ký bằng chữ ký số được cung cấp bởi cơ quan có thẩm quyền sẽ có hiệu lực pháp luật như với văn bản được in ra, ký tên và đóng dấu. Để đảm bảo chữ ký số có giá trị pháp lý phải đáp ứng các điều kiện về chữ ký điện tử an toàn như sau:

- Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khoá công khai ghi trên chứng thư số có hiệu lực đó.

- Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khoá bí mật tương ứng với khoá công khai ghi trên chứng thư số do tổ chức có thẩm quyền cấp.

- Khóa bí mật chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký.

- Khóa bí mật và nội dung thông điệp dữ liệu chỉ gắn duy nhất với người ký khi người đó ký số thông điệp dữ liệu.

Ai có thẩm quyền cấp chữ ký số?

Doanh nghiệp, cá nhân có thể sử dụng chữ ký số đối với các hoạt động kinh doanh, hoặc đáp ứng nhu cầu nội bộ không vì mục đích kinh doanh.

Tùy theo mục đích sử dụng, doanh nghiệp sẽ xin cấp phép ở những tổ chức có thẩm quyền khác nhau. Theo quy định của pháp luật thì đối với những cá nhân, tổ chức sử dụng chữ ký số nhằm mục đích kinh doanh thì tổ chức có thẩm quyền cấp là tổ chức cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng.

Trong quá trình hoạt động, nếu doanh nghiệp, cá nhân thay đổi thông tin đăng ký ban đầu thì chủ sở hữu chữ ký số cần thông báo đến tổ chức cấp chữ ký số để cập nhật thông tin.
                                                                                                                        Theo Tạp Chí Tài Chính
(TBKTSG Online) - Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định cho Bảo hiểm Xã hội Việt Nam thí
điểm thực hiện giao dịch điện tử từ ngày 1-4 tới.

Việc thí điểm được thực hiện trong thủ tục tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và đề nghị cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế.

Đối tượng thực hiện thí điểm gồm doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp... Theo đó, các doanh nghiệp sẽ thực hiện giao dịch điện tử trong thực hiện bảo hiểm xã hội từ ngày 1-4 tới. Còn các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp và các tổ chức khác thực hiện kể từ ngày 1-10 tới.

Để có thể thực hiện giao dịch bảo hiểm xã hội điện tử, đơn vị sử dụng lao động thực hiện giao dịch điện tử phải có chứng thư, chữ ký số bhxh ; có khả năng truy cập, sử dụng mạng Internet; có địa chỉ thư điện tử liên lạc ổn định và đăng ký với Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.

Giao dịch bảo hiểm xã hội điện tử giúp đơn vị tham gia bảo hiểm có được công cụ lập thủ tục đúng quy định, hỗ trợ nhiều chức năng tự động giúp giảm thiểu sai sót khi kê khai; giảm thiểu thời gian đi lại giao dịch với cơ quan bảo hiểm; đặc biệt là xem được kết quả giao dịch ngay qua mạng; giảm phiền hà cho người lao động cũng như đơn vị sử dụng lao động…

Đơn vị sử dụng lao động không thực hiện giao dịch bằng hồ sơ giấy đối với các thủ tục đã đăng ký bằng hình thức giao dịch điện tử với bảo hiểm xã hội. Các tài liệu kèm theo ở dạng giấy phải được chuyển đổi sang dạng điện tử. Khi tài liệu giấy không còn giá trị pháp lý thì những nội dung liên quan tại dữ liệu giao dịch điện tử cũng không còn giá trị pháp lý.

Việc thực hiện các giao dịch điện tử sẽ được tiến hành qua Cổng thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoặc cổng giao dịch điện tử của tổ chức cung cấp dịch vụ giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Được biết, để đơn giản hóa thủ tục hành chính, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam đã triển khai thí điểm giao dịch bằng phần mềm hỗ trợ kê khai thủ tục bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tại 36 tỉnh, thành phố với hơn 30 nghìn doanh nghiệp áp dụng. Với hình thức kê khai này, thời gian thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội đã giảm được 45 giờ so với trước.

Trong Báo cáo môi trường kinh doanh 2014 của Ngân hàng Thế giới công bố về chỉ số nộp thuế, thời gian doanh nghiệp ở Việt Nam làm thủ tục về bảo hiểm xã hội là 335 giờ/năm, số lần nộp là 12 lần/năm. Để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết đặt ra những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm hướng tới mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó có cải cách thủ tục hành chính bảo hiểm xã hội.

Được biết đến cuối năm 2014, ngành bảo hiểm xã hội đã giảm thời gian dành cho việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến nộp bảo hiểm xã hội xuống còn khoảng 200 giờ/năm, đã giảm được 50% số giờ theo yêu cầu của Chính phủ.

Việc triển khai giao dịch điện tử trong bảo hiểm xã hội là một biện pháp tối ưu để tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian giao dịch trong lĩnh vực này. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian từ năm 2014 đến hết năm 2015, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần cắt giảm thời gian kê khai, thủ tục nộp bảo hiểm bằng mức bình quân các nước trong khu vực, là 50 giờ/năm.
                                                                                                    Theo TBKTSG Online
ICTnews - Đau đầu khi bị cạnh tranh bằng những "chiêu bẩn" trước nguy cơ bão hòa thị trường chữ ký số cho doanh nghiệp, các nhà cung cấp đang rục rịch triển khai giải pháp chữ ký số mobile với thị trường tiềm năng lên tới 90 triệu khách hàng cá nhân.

Như ICTnews đã phản ánh, cả nước hiện có 9 nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng trong khi tập khách hàng chỉ giới hạn ở số lượng khoảng 500.000 doanh nghiệp và phần lớn đều đã sử dụng chữ ký số. Các nhà cung cấp dịch vụ đang đau đầu trước không ít chiêu thức cạnh tranh không lành mạnh.
Để nới rộng quy mô thị trường, một giải pháp mới được nhắm tới là chữ ký số mobile dành cho khách hàng cá nhân, với tập khách hàng lên tới 90 triệu người, những người không sớm thì muộn cũng sẽ tham gia các hoạt động giao dịch điện tử như mua hàng trực tuyến, đầu tư chứng khoán trực tuyến, chuyển tiền ngân hàng... và đặc biệt là các dịch vụ công trực tuyến.
Chữ ký số mobile có nhiều ưu điểm hơn so với chữ ký số sử dụng qua USB Token truyền thống. Chẳng hạn, với giải pháp dùng USB Token, người dùng bắt buộc phải có kết nối mạng Internet, có laptop hoặc PC, phần mềm cho phép ký điện tử và USB Token chứa chứng thư số. Còn với chữ ký số mobile, người dùng chỉ cần có thiết bị di động tích hợp phần mềm cho phép ký số và có kết nối Wi-Fi hoặc 3G.
chữ ký số mobile
Sẽ có ngày càng nhiều người dùng di động tại Việt Nam ứng dụng chữ ký số cá nhân để thực hiện các giao dịch trực tuyến trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ công...
Ảnh minh họa . Nguồn : Internet.
Viettel là nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu, thử nghiệm thành công giải pháp chữ ký số mobile với chữ ký số được tích hợp qua SIM-CA. Bên cạnh những chức năng của SIM thông thường, SIM-CA do Viettel sản xuất còn chứa chứng thư số và mã xác thực (mã pin) để có thể thực hiện các giao dịch ký điện tử. Người sử dụng SIM-CA có thể thực hiện việc ký điện tử thông qua các thiết bị máy tính bảng, điện thoại thông minh và cả điện thoại phổ thông ở bất cứ đâu, chỉ cần có sóng của nhà mạng.
Tiếp nối chữ ký số viettel , các nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số khác cũng rục rịch triển khai giải pháp chữ ký số mobile. Ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Giám đốc Công ty Điện toán & Truyền số liệu VDC phân tích: "Theo Báo cáo Tài nguyên Internet Việt Nam 2013, trung bình người dùng trong nước truy cập Internet 26,2 giờ mỗi tháng, trong đó có tới 90% người từng sử dụng Internet truy cập bằng thiết bị di động và 50% truy cập Internet qua thiết bị di động một lần mỗi ngày. Sự phát triển với tốc độ khá nhanh của số lượng người sử dụng Internet thông qua thiết bị di động tại Việt Nam sẽ tạo ra động lực phát triển cho ứng dụng chữ ký số mobile. Dự kiến trong quý 3/2014, VNPT/VDC sẽ đưa ra thị trường một bộ giải pháp về ứng dụng chữ ký số trên di động như bảo mật email, tin nhắn SMS, eOfice".
Ông Ngô Tuấn Anh, Phó Chủ tịch phụ trách An ninh mạng của Bkav cũng bật mí: "Chữ ký số cho cá nhân có thể dùng trên các thiết bị di động như điện thoại, máy tính bảng sẽ là xu thế trong thời gian tới. Bkav đã có kế hoạch cho việc thúc đẩy và tham gia thị trường này. Chúng tôi cũng đang phát triển một giải pháp riêng cho nhóm khách hàng cá nhân và mảng thiết bị di động, dự kiến ra mắt trong quý 4 năm nay".
Chia sẻ thông tin FPT đã chuẩn bị xong các giải pháp kỹ thuật để tham gia thị trường chữ ký số cá nhân, tuy nhiên ông Trần Thế Hiển, Tổng giám đốc Công ty TNHH Hệ thống Thông tin FSE FPT dự đoán: "Thị trường này trong vài năm tới chưa thể nói là phát triển tốt, vì phụ thuộc rất nhiều về chính sách của các ngân hàng, chứng khoán có muốn áp dụng chữ ký số  trong giao dịch hay không, cũng như các quy định, chính sách của Nhà nước trong việc sử dụng chữ ký số, nhất là khi thực hiện các dịch vụ công trực tuyến".
                                                                                                                              Theo ICTnews

Đại Lý Chữ Ký Số

http://www.tongdaichukyso.net/search/label/chu-ky-so-bkav
Được tạo bởi Blogger.

chữ ký số

Chữ ký số

Send Quick Massage

Tên

Email *

Thông báo *

Blogroll